Nhãn hiệu tập thể và việc đăng ký nhãn hiệu tập thể ở Việt nam

Cập nhật: 18-02-2013 10:10
Sở hữu trí tuệ ngày càng chứng tỏ là một công cụ đắc lực đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Thực tiễn cho thấy, nhiều tổ chức, doanh nghiệp trên thế giới đã rất thành công nhờ có chính sách đúng đắn về sở hữu trí tuệ cũng như việc áp dụng chiến lược sử dụng quyền sở hữu trí tuệ một cách có hiệu quả trong quá trình sản xuất, chế biến và kinh doanh.

Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đặt ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức, trong đó có vấn đề sở hữu trí tuệ. Đây là một trong các nội dung của nhiều cuộc đàm phán song phương và đa phương quan trọng. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam được thông qua năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 đã có tác dụng khuyến khích, tạo điều kiện cho các hoạt động sáng tạo, cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất, kinh doanh, chuyển giao các tài sản trí tuệ, phát triển khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, có được sự nhận biết và sự trung thành của người tiêu dùng là một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Chưa tính đến chất lượng hàng hóa, việc tiếp cận các cửa hàng bán lẻ, các thị trường trong nước và làm cho người tiêu dùng biết đến hàng hóa đòi hỏi khoản đầu tư đáng kể thậm chí vượt quá ngân sách của nhiều doanh nghiệp. Với quy mô sản xuất nhỏ, nhiều doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi phát triển chiến lược marketing, nhất là đối với các sản phẩm nông sản, thủ công mỹ nghệ truyền thống. Vậy có lựa chọn nào cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa? Các doanh nghiệp nhỏ và vừa dó đó cần nghĩ tới việc đăng ký xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm của mình. Trong luật sở hữu trí tuệ của hầu hết các nước đều có những điều khoản quy định về việc bảo hộ nhãn hiệu tập thể.

 

Nhãn hiệu tập thể và việc đăng ký nhãn hiệu tập thể ở Việt nam

Sản xuất nước mắm Phú Quốc(Ảnh minh hoạ)

 

Theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam,“Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó” (Điều 4.17).

Nhãn hiệu tập thể thường do một hiệp hội, một hợp tác xã sở hữu nhưng bản thân các tổ chức này không sử dụng nhãn hiệu tập thể mà chỉ những thành viên của họ sử dụng nhãn hiệu tập thể để tiếp thị sản phẩm. Tổ chức tập thể sở hữu nhãn hiệu trao cho các thành viên của mình quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể với điều kiện họ phải đáp ứng và tuân thủ một cách nghiêm ngặt các quy định trong quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu tập thể. Nhãn hiệu tập thể có thể là một phương thức có hiệu quả để tiếp thị sản phẩm của một nhóm các doanh nghiệp mà nếu thực hiện riêng lẻ sẽ gặp khó khăn hơn rất nhiều. Chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể có trách nhiệm đảm bảo các thành viên tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu nhất định. Chức năng của nhãn hiệu tập thể là chỉ dẫn cho công chúng về những đặc tính nhất định của sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể. Vì vậy, hầu hết các nước yêu cầu rằng đơn yêu cầu đăng ký nhãn hiệu tập thể nộp kèm theo bản quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu tập thể, trong đó có Việt Nam.

Nhãn hiệu tập thể thường được sử dụng nhằm khuếch trương các sản phẩm mang đặc trưng của một vùng nhất định. Việc tạo dựng nhãn hiệu tập thể trên thực tế phải đi kèm với sự phát triển các tiêu chuẩn nhất định cùng với một chiến lược chung. Khi đó, nhãn hiệu tập thể mới có thể trở thành một công cụ hữu hiệu cho phát triển. Một điểm cần lưu ý là việc xem xét các sản phẩm có những đặc trưng riêng của những người sản xuất ở một vùng nhất định có liên quan đến các điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội của vùng. Một nhãn hiệu tập thể có thể được sử dụng để thể hiện các đặc trưng đó đồng thời là cơ sở để marketing các sản phẩm, đem lại lợi ích cho các nhà sản xuất. Nhãn hiệu tập thể cũng có thể được sử dụng cùng với các nhãn hiệu riêng của người sản xuất hàng hóa nhất định. Điều này cho phép các doanh nghiệp phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chính doanh nghiệp với hàng hóa, dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh khác, trong khi cùng thu được lợi ích từ sự tin tưởng của người tiêu dùng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu tập thể.

Xét về điều kiện bảo hộ sản phẩm dưới hình thức nhãn hiệu tập thể thì sản phẩm phải có thị trường, có tiềm năng phát triển, có nhiều nhà sản xuất, kinh doanh cùng trong một khu vực địa lý với chất lượng, mẫu mã khác nhau và chưa được kiểm soát; danh tiếng, uy tín của sản phẩm có nguy cơ sụt giảm. Mặt khác, các nhà sản xuất, kinh doanh sản phẩm phải nhận thức được sự cần thiết phải giữ gìn uy tín chất lượng sản phẩm của địa phương mình cũng như tự nguyện tham gia cùng xây dựng nhãn hiệu chung cho loại sản phẩm đảm bảo các đặc tính nhất định và đóng góp kinh phí để cùng nhau xây dựng và phát triển nhãn hiệu chung. Hơn nữa, chính quyền địa phương cũng phải có chủ trương phát triển sản phẩm và sẵn sàng hỗ trợ về chuyên môn, kinh phí cho việc xây dựng và phát triển nhãn hiệu.

Thực tế cho đến nay, dù cả nước có rất nhiều nhãn hiệu tập thể đã được đăng ký và bảo hộ dành cho các đặc sản của địa phương nhưng thực tế việc quản lý và phát triển còn nhiều khó khăn. Trước hết phải kể đến là việc xác định tổ chức chủ thể đứng tên đăng ký và quản lý nhãn hiệu tập thể. Tổ chức chủ thể tiếp nhận mô hình này phải có uy tín và phải nắm vững việc sản xuất kinh doanh sản phẩm, am hiểu thị trường, có kiến thức tổ chức, quản lý cũng như phải có các cán bộ có hiểu  biết tốt về sở hữu trí tuệ và giá trị của tài sản trí tuệ.Thứ hai là việc xác định chất lượng, đặc thù các sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể. Sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể chủ yếu được xác định chất lượng bằng màu sắc, hình dáng, mùi vị,… và dựa vào cảm quan là chính nên rất khó định lượng để đề ra tiêu chuẩn chung cho sản phẩm. Khó khăn nữa là việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên tham gia sử dụng nhãn hiệu tập thể. Việc tham gia trong một tổ chức thống nhất sẽ dẫn đến quyền lợi của các thành viên không giống nhau nên thường khó tìm được tiếng nói chung gây khó khăn rất lớn cho việc quản lý sử dụng nhãn hiệu tập thể sau này. Do đó, việc quản lý khai thác nhãn hiệu tập thể phải đảm bảo được sự kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, bền vững.

Về giải pháp, việc tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức về sở hữu trí tuệ thông qua các lớp tập huấn, hội thảo nhằm nâng cao nhận thức của các thành viên trong tổ chức tập thể, các tổ chức hiệp hội, hợp tác xã, các cán bộ quản lý trong các cấp lãnh đạo và nâng cao nhận thức chung cho toàn xã hội. Mặt khác cần huy động các phương tiện thông tin đại chúng vào cuộc như các bài viết tuyên truyền, đài phát thanh-truyền hình, trong đó truyền hình đóng vai trò rất quan trọng. Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu phục vụ sản xuất, thương mại. Hơn nữa, việc xây dựng quy chế  quản lý và sử dụng nhãn hiệu tập thể cần xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên sau khi đã lấy ý kiến của các thành viên, các quy định  khác như: tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, quy định đóng gói bao bì, gắn tem nhãn, quy trình kiểm tra chất lượng cũng phải được chuẩn hóa, rõ ràng. Ngoài ra, bộ máy điều hành việc quản lý sử dụng nhãn hiệu tập thể cũng cần được đầu tư tốt, cử các cán bộ có năng lực, có hiểu biết về sở hữu trí tuệ tham gia đồng thời nhà nước cần có kinh phí hỗ trợ để duy trì hoạt động của bộ máy đó đặc biệt là trong thời gian đầu khi xác lập quyền. Nhà nước cũng cần có các chính sách, biện pháp mở rộng thị trường, đưa các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh đi vào nề nếp, chuyên nghiệp. Có như vậy, các sản phẩm đặc sản, truyền thống của địa phương mới có thể phát huy được giá trị của mình.

 

 

Nguyễn Hải Dương – Công ty sở hữu trí tuệ INVENCO

Ý kiến của bạn về: Nhãn hiệu tập thể và việc đăng ký nhãn hiệu tập thể ở Việt nam